Cập nhật

Lịch sử Game Boy Advance

Game Boy Advance, ra mắt năm 2001, là máy 32-bit kế nhiệm Game Boy và Game Boy Color mà Nintendo chờ đợi lâu. Bố cục ngang, nút vai và màn màu sống động.

· Maftyマフティー

Game Boy Advance (GBA), ra mắt năm 2001, là máy 32-bit kế nhiệm Game Boy và Game Boy Color mà Nintendo chờ đợi lâu. Với bố cục ngang, nút vai và màn màu sống động, GBA như Super Nintendo xách tay — cả thiết kế lẫn hiệu năng. Nó có bộ xử lý ARM7TDMI 32-bit mạnh, đồ họa 2D phong phú, và tương thích ngược đầy đủ với mọi game Game Boy trước. Ra mắt với lineup first- và third-party chắc, nó ngay lập tức thành lực lượng thống trị handheld.

Thư viện GBA lớn nhanh, vừa tựa gốc vừa port chất lượng cao các cổ điển 16-bit. Game nổi gồm Pokémon Ruby and Sapphire, Metroid Fusion, The Legend of Zelda: The Minish Cap, Advance Wars, Fire EmblemCastlevania: Aria of Sorrow. Hệ máy cũng nhận remake và port hit thời SNES như Final Fantasy VI Advance, A Link to the PastDonkey Kong Country. Nhà phát triển tận dụng màn giàu pixel và sơ đồ điều khiển sâu, cho ra một số game 2D được mài nhất từng có.

Bán hơn 81 triệu máy trên thế giới, Game Boy Advance củng cố vị thế handheld của Nintendo sâu vào những năm 2000. Nó qua vài lần sửa phần cứng, gồm GBA SP (nắp gập và màn trước/đèn nền) và Game Boy Micro (bản nhỏ, phong cách, màn sáng hơn). Dù sau đó nhường chỗ cho Nintendo DS, GBA vẫn được yêu vì giữ lời hứa chơi chất máy tại nhà khi đi, đồng thời giữ duyên pixel art và thiết kế gameplay chặt.


Thông số kỹ thuật Game Boy Advance

Thành phầnThông số
CPUARM7TDMI 32-bit @ 16.78 MHz + đồng xử lý Z80 8-bit cho tương thích ngược
Màn hìnhLCD TFT phản quang 2,9”, bảng 32.768 màu
Độ phân giải240×160 pixel
Âm thanhÂm stereo 6 kênh (qua jack tai nghe hoặc loa)
Phương tiệnBăng GBA (tới 32MB), tương thích ngược băng GB/GBC
Thời lượng pin10–15 giờ (2 pin AA)
Ngày phát hành2001 (Nhật và Bắc Mỹ), 2001–2002 (Châu Âu và vùng khác)



Thêm thông tin…